Trang chủ » Kiểm xạ và đảm bảo an toàn bức xạ

Kiểm xạ và đảm bảo an toàn bức xạ

Kiểm xạ đại diện cho một mắt xích kỹ thuật cốt lõi trong toàn bộ hệ thống quản lý an toàn bức xạ, an ninh hạt nhân. Trong bối cảnh ứng dụng năng lượng nguyên tử ngày càng mở rộng mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực từ chẩn đoán, điều trị y tế (máy X-quang, CT-scanner, xạ trị gia tốc, y học hạt nhân) đến các ngành công nghiệp chế tạo, kiểm định không phá hủy (NDT), địa chất, và soi chiếu an ninh, việc kiểm soát các rủi ro bức xạ ion hóa đóng vai trò tiên quyết. Bản chất của bức xạ ion hóa là các chùm hạt vi mô hoặc sóng điện từ có năng lượng đủ lớn để ion hóa vật chất, có khả năng biến đổi cấu trúc tế bào và tổn hại đến sức khỏe con người. Do đó, hoạt động kiểm xạ được pháp luật quy định như một nghĩa vụ bắt buộc để kiểm soát mức độ chiếu xạ, bảo vệ nhân viên bức xạ, công chúng và môi trường xung quanh.

Khái niệm và bản chất kỹ thuật của kiểm xạ

Căn cứ quy định của pháp luật về năng lượng nguyên tử, kiểm xạ là việc đo liều, suất liều chiếu xạ hoặc nồng độ hoạt độ phóng xạ, tổng hoạt độ phóng xạ, mức nhiễm bẩn phóng xạ ở một khu vực và môi trường xung quanh để đánh giá hoặc kiểm soát mức độ chiếu xạ và luận giải kết quả đo. Về mặt bản chất kỹ thuật, kiểm xạ không dừng lại ở việc ghi nhận thông số đơn thuần bằng các thiết bị đo bức xạ chuyên dụng, mà là một quy trình đánh giá thực địa có tính hệ thống nhằm xác định trường bức xạ, suất liều tương đương và phát hiện nguy cơ rò rỉ chất phóng xạ.

Trong thực tiễn quản lý an toàn bức xạ, cần phân biệt rõ hai khái niệm kỹ thuật thường bị nhầm lẫn trong các cơ sở vận hành:

  • Kiểm xạ: tập trung đánh giá không gian môi trường bức xạ xung quanh thiết bị hoặc nguồn phóng xạ. Hoạt động này ghi nhận suất liều bức xạ tại vị trí thao tác của nhân viên, khu vực phòng chờ của công chúng, ranh giới che chắn tường, cửa ra vào để đảm bảo môi trường làm việc nằm trong giới hạn cho phép.
  • Kiểm định thiết bị bức xạ: tập trung kiểm tra các thông số kỹ thuật và độ chuẩn xác về mặt phát xạ của chính bản thân thiết bị (như điện áp đỉnh kV, dòng bóng mA, thời gian phát tia, độ trùng phùng của chùm tia X và trường sáng) theo các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng.

Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động kiểm xạ tại Việt Nam hiện nay bao gồm hệ thống Luật Năng lượng nguyên tử, Nghị định số số 332/2025/NĐ-CP, Thông tư số 59/2025/TT-BKHCN, Thông tư số 07/2026/TT-BKHCN cùng các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan. Pháp luật quy định kiểm xạ là hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử có điều kiện. Chỉ các tổ chức có đủ năng lực thiết bị, nhân lực chuyên môn và được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp giấy đăng ký hoạt động mới được phép thực hiện đo kiểm xạ cho các cơ sở.

Tầm quan trọng thực hiện kiểm xạ

Hoạt động kiểm xạ giữ vai trò quyết định trong việc cân bằng giữa lợi ích kinh tế – kỹ thuật của ứng dụng bức xạ và nguy cơ rủi ro sức khỏe cộng đồng. Việc thực hiện kiểm xạ định kỳ và đột xuất xuất phát từ ba nguyên nhân cốt lõi sau.

(i) Bảo vệ sức khỏe con người

Tác hại sinh học của bức xạ ion hóa được chia thành hai nhóm chính: hiệu ứng tất định (deterministic effects – bao gồm bỏng phóng xạ, đục thủy tinh thể, suy tủy) phát sinh khi liều chiếu vượt qua một ngưỡng giá trị nhất định; và hiệu ứng ngẫu nhiên (stochastic effects – bao gồm ung thư và đột biến di truyền) không có ngưỡng liều an toàn tuyệt đối. Kiểm xạ giúp xác định chính xác suất liều chiếu hiện hữu tại môi trường làm việc, bảo đảm liều nhận được của nhân viên bức xạ và công chúng không vượt quá các giới hạn liều pháp định.

Kiểm xạ là công cụ trực tiếp để thực thi nguyên tắc ALARA (As Low As Reasonably Achievable – Giữ mức liều chiếu xạ ở mức thấp nhất có thể đạt được một cách hợp lý), một nguyên tắc quản lý an toàn cốt lõi được áp dụng toàn cầu và quy định cụ thể tại Luật Năng lượng nguyên tử. Thông qua kết quả kiểm xạ thực tế, có thể đánh giá hiệu quả của hệ thống che chắn (bê tông, chì, gạch barit), từ đó đưa ra các điều chỉnh về thời gian làm việc, khoảng cách thao tác hoặc gia cố thêm vật liệu hấp thụ bức xạ.

(ii) Phát hiện suy thoái hệ thống che chắn và sự cố rò rỉ bức xạ

Các công trình che chắn bức xạ như phòng máy X-quang, phòng chụp CT, phòng gia tốc, kho lưu giữ nguồn phóng xạ hoặc cấu trúc vỏ bọc của nguồn phóng xạ kín có thể bị suy thoái chất lượng theo thời gian. Tác động của yếu tố thời tiết, sự lão hóa vật liệu, biến dạng cơ học, nứt nẻ tường hoặc hở khe cửa chì đều có thể tạo ra các “điểm nóng” rò rỉ bức xạ. Đối với các cơ sở sử dụng chất phóng xạ hở như khoa Y học hạt nhân, nguy cơ vãi nhiễm phóng xạ bề mặt sàn nhà, bàn pha chế hoặc hệ thống đường ống xả thải là rất lớn. Kiểm xạ định kỳ và kiểm xạ nhiễm bẩn là phương pháp duy nhất giúp phát hiện sớm các hiện tượng rò rỉ, vãi nhiễm này trước khi xảy ra sự cố chiếu xạ quá liều đối với nhân viên hoặc phát tán chất phóng xạ ra môi trường dân cư.

(iii) Tuân thủ pháp lý và hoàn thiện hồ sơ xin cấp phép

Theo quy định pháp luật hiện hành, kết quả kiểm xạ là thành phần hồ sơ bắt buộc khi cơ sở tiến hành thủ tục xin cấp mới, gia hạn, hoặc bổ sung giấy phép tiến hành công việc bức xạ. Nếu không có kết quả kiểm xạ do đơn vị được cấp đăng ký dịch vụ thực hiện, cơ sở không thể hoàn thiện hồ sơ pháp lý để trình Cục An toàn bức xạ và hạt nhân hoặc Sở Khoa học và Công nghệ thẩm định. Việc tự ý vận hành thiết bị bức xạ hoặc nguồn phóng xạ mà không thực hiện kiểm xạ theo định kỳ sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính nặng theo quy định, đồng thời đối mặt với nguy cơ bị đình chỉ hoạt động.

Giới hạn liều chiếu xạ và phân vùng an toàn bức xạ

Để quản lý an toàn chiếu xạ một cách hiệu quả, hệ thống quy chuẩn quốc gia quy định các giới hạn liều bắt buộc áp dụng cho từng nhóm đối tượng, đồng thời yêu cầu cơ sở phải thực hiện phân vùng an toàn dựa trên kết quả kiểm xạ thực tế.

Đối tượng chiếu xạLiều hiệu dụng toàn thânLiều tương đương cho Thủy tinh thể mắtLiều tương đương cho Da, Tay và Chân
Nhân viên bức xạ (trên 18 tuổi)20mSv/năm (tính trung bình trong 5 năm liên tiếp; không quá 50mSv trong một năm đơn lẻ)20mSv/năm (tính trung bình trong 5 năm liên tiếp) hoặc 150mSv/năm500mSv/năm
Người học việc, học sinh (16 – 18 tuổi)6mSv/năm20mSv/năm150mSv/năm
Công chúng (người dân xung quanh)1mSv/năm15mSv/năm50mSv/năm

Căn cứ vào mức liều tiềm năng được xác định qua kiểm xạ và tính toán thiết kế, Nghị định số 332/2025/NĐ-CP và Thông tư số 59/2025/TT-BKHCN yêu cầu cơ sở phải thiết lập hai khu vực an toàn bức xạ rõ ràng:

  • Khu vực kiểm soát (Controlled Area): Được thiết lập tại những nơi có mức liều bức xạ tiềm năng lớn hơn hoặc bằng 6mSv/năm hoặc những nơi có khả năng gây nhiễm bẩn phóng xạ (như phòng đặt máy gia tốc xạ trị, phòng thao tác dược chất phóng xạ y học hạt nhân, phòng chiếu xạ công nghiệp). Tại khu vực này, cơ sở bắt buộc phải thiết lập rào chắn vật lý, biển cảnh báo bức xạ ion hóa, kiểm soát chặt chẽ người ra vào và bắt buộc nhân viên phải trang bị liều kế cá nhân.
  • Khu vực giám sát (Supervised Area): Được thiết lập tại những nơi có mức liều bức xạ tiềm năng từ trên 1mSv/năm đến dưới 6mSv/năm. Khu vực này cần được theo dõi phông bức xạ định kỳ để bảo đảm điều kiện chiếu xạ luôn trong tầm kiểm soát.
  • Khi tính toán thiết kế tường che chắn bức xạ cho các khu vực nêu trên, cơ sở phải áp dụng mức kiềm chế liều (dose constraint) tối đa bằng 3/10 giá trị giới hạn liều tương ứng nhằm tạo ra một hệ số an toàn kỹ thuật phòng ngừa sự cố.

Đối với cơ sở sử dụng thiết bị bức xạ: thiết bị bức xạ bao gồm máy X-quang chẩn đoán y tế, máy chụp cắt lớp vi tính (CT-scanner), máy X-quang di động, máy đo huỳnh quang tia X (XRF), máy soi kiểm tra bo mạch, máy soi hành lý, và các máy phát tia X chụp ảnh công nghiệp. Đặc tính kỹ thuật cơ bản của thiết bị bức xạ là chỉ phát ra tia X khi được cấp nguồn điện và kích hoạt phát tia, khác hoàn toàn với chất phóng xạ phân rã tự nhiên. Do đó, công tác đảm bảo an toàn bức xạ cho thiết bị tập trung vào việc thiết kế phòng máy, kiểm soát vận hành và bảo dưỡng định kỳ.

Về mặt nguyên tắc thiết kế phòng đặt thiết bị bức xạ trong y tế, pháp luật quy định mỗi phòng máy chỉ được phép lắp đặt 01 thiết bị bức xạ. Trường hợp ngoại lệ duy nhất áp dụng đối với thiết bị X-quang chẩn đoán trong y tế, cho phép bố trí tối đa 02 thiết bị trong cùng một phòng. Tuy nhiên, phòng máy bắt buộc phải được trang bị hệ thống khóa chéo liên động (interlocks) về điện để bảo đảm chắc chắn rằng chỉ có duy nhất 01 thiết bị có thể vận hành tại một thời điểm.

Cơ sở phải tính toán vị trí lắp đặt sao cho hướng chùm tia chiếu nguyên phát tuyệt đối không hướng trực tiếp vào tủ điều khiển, cửa ra vào, cửa sổ quan sát hoặc các khu vực có đông công chúng qua lại. Tủ điều khiển thiết bị bức xạ phải được bố trí đặt ngoài phòng máy, đằng sau tường chì hoặc kính chì bảo vệ. Đối với các thiết bị X-quang chẩn đoán nhỏ làm việc ở điện áp dưới 150kV, trường hợp tủ điều khiển đặt bên trong phòng thì bắt buộc phải trang bị bình phong chì che chắn đạt quy chuẩn, bảo đảm suất liều tại vị trí nhân viên vận hành đứng điều khiển không vượt quá 10μSv/giờ. Ngoài ra, phía trên cửa ra vào phòng máy bắt buộc phải lắp đặt đèn cảnh báo bức xạ có liên động với trạng thái phát tia của máy và dán biển cảnh báo bức xạ ion hóa theo đúng tiêu chuẩn.

Chế độ kiểm xạ và kiểm định thiết bị

Cơ sở sử dụng thiết bị bức xạ phải thực hiện công tác kiểm xạ môi trường làm việc trong các thời điểm bắt buộc bao gồm: đo khảo sát ban đầu phục vụ lập hồ sơ xin cấp giấy phép hoạt động; đo lại ngay sau khi tiến hành sửa chữa, thay thế bóng phát tia X hoặc thay đổi vị trí lắp đặt thiết bị; và thực hiện đo kiểm xạ định kỳ tối thiểu 01 lần trong một năm. Tọa độ các điểm đo kiểm xạ phải bao gồm vị trí nhân viên vận hành, các vị trí áp sát tường che chắn phía ngoài, cửa ra vào, cửa sổ quan sát và khu vực công chúng giáp ranh. Song song với kiểm xạ, thiết bị bức xạ bắt buộc phải được kiểm định định kỳ về chất lượng phát tia (1 năm/lần hoặc 2 năm/lần tùy chủng loại thiết bị) nhằm đảm bảo an toàn cho người vận hành và tối ưu hóa liều chiếu.

Đối với cơ sở sử dụng nguồn phóng xạ: nguồn phóng xạ bao gồm các đồng vị phóng xạ phát ra bức xạ anpha, bêta, gamma hoặc nơtron liên tục do quá trình phân rã hạt nhân. Nguồn phóng xạ được chia thành hai dạng chính: nguồn phóng xạ kín (sealed source) và nguồn phóng xạ hở (unsealed source). Khác với thiết bị bức xạ có thể tắt nguồn điện, nguồn phóng xạ phát ra bức xạ liên tục 24/7 và không thể dập tắt bằng cơ học. Sự nguy hiểm này đòi hỏi cơ sở phải áp dụng các biện pháp an ninh và an toàn đặc biệt nghiêm ngặt.

Theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 6:2010/BKHCN, nguồn phóng xạ được phân thành 5 nhóm dựa trên tỷ số giữa hoạt độ phóng xạ hiện tại (A) và giá trị đặc trưng cho mức độ nguy hiểm (D). Căn cứ vào phân nhóm này, quy định 4 mức độ bảo đảm an ninh tương ứng (Mức A, B, C, D) nhằm ngăn chặn hành vi tiếp cận trái phép, chiếm đoạt hoặc phá hoại nguồn phóng xạ.

Đối với các nguồn phóng xạ Nhóm 1 và Nhóm 2 (như nguồn Cobalt-60 trong máy xạ trị, Iridium-192 trong chụp ảnh NDT, Cs-137 chiếu xạ công nghiệp), cơ sở phải áp dụng hệ thống bảo vệ an ninh đa lớp. Hệ thống này bao gồm tường rào bảo vệ, cửa khóa nhiều lớp, camera giám sát hồng ngoại 24/7, hệ thống báo động đột nhập kết nối trực tiếp với lực lượng an ninh địa phương và chế độ kiểm kê nguồn thường xuyên.

Đối với cơ sở sử dụng nguồn phóng xạ kín (như máy đo độ ẩm, máy đo mức, thiết bị soi khuyết tật kim loại), cơ sở phải định kỳ kiểm tra sự rò rỉ của nguồn phóng xạ thông qua phương pháp miết bề mặt. Việc kiểm tra rò rỉ giúp xác định xem vỏ bọc kim loại của nguồn có bị ăn mòn, nứt vỡ hay không, từ đó ngăn ngừa nguy cơ phát tán chất phóng xạ ra môi trường.

Đối với cơ sở sử dụng nguồn phóng xạ hở (như khoa Y học hạt nhân sử dụng I-131, Tc-99m, F-18 để chẩn đoán và điều trị), công tác an toàn phức tạp hơn do rủi ro vãi nhiễm phóng xạ dạng lỏng và khí. Cơ sở bắt buộc phải thực hiện:

  • Kiểm xạ nhiễm bẩn phóng xạ bề mặt sàn nhà, bàn pha chế và kiểm xạ nồng độ chất phóng xạ trong không khí định kỳ hàng tháng hoặc sau mỗi đợt điều trị.
  • Trang bị các hệ thống làm việc kín như tủ hút khí phóng xạ có phin lọc than hoạt tính, tủ găng tay cách ly, sử dụng vật liệu phủ bề mặt tường và sàn nhà nhẵn bóng, không thấm nước và dễ tẩy xạ.
  • Xây dựng hệ thống thu gom, xử lý chất thải phóng xạ lỏng chuyên dụng bao gồm các bể phân rã thể tích lớn để lưu giữ nước thải bệnh nhân trước khi xả thải ra môi trường dân cư. Nồng độ phóng xạ xả thải phải được kiểm soát nghiêm ngặt theo giới hạn xả thải pháp định.
  • Chỉ cho phép bệnh nhân điều trị nội trú bằng thuốc phóng xạ (như I-131) xuất viện khi kết quả đo kiểm xạ hoạt độ phóng xạ trong cơ thể đã giảm xuống dưới mức giới hạn an toàn quy định.

Quản lý nhân sự, liều kế cá nhân và hồ sơ an toàn bức xạ

Bên cạnh việc thực hiện các biện pháp kiểm xạ kỹ thuật tại hiện trường, công tác quản lý con người và lưu trữ hồ sơ pháp lý đóng vai trò quyết định tính bền vững trong hoạt động an toàn của cơ sở. Chủ cơ sở tiến hành công việc bức xạ có nghĩa vụ trang bị liều kế cá nhân (như liều kế nhiệt phát quang TLD hoặc quang phát quang OSL) cho tất cả nhân viên làm việc trong khu vực kiểm soát và khu vực giám sát. Liều kế cá nhân phải được đeo đúng vị trí trong suốt quá trình làm việc. Cơ sở phải hợp đồng với đơn vị dịch vụ được cấp đăng ký để thực hiện đọc liều cá nhân định kỳ với tần suất không được quá 03 tháng/lần. Ngoài các liều kế trang bị cho nhân viên, cơ sở phải thuê thêm 01 liều kế cá nhân đặt tại khu vực hành chính để theo dõi phông bức xạ môi trường tự nhiên dùng làm đối chứng.

Cơ sở phải ban hành quy trình sử dụng liều kế cá nhân và xử lý khi có sự cố bất thường. Trong trường hợp liều kế cá nhân của nhân viên bị rơi vào trường chiếu xạ, bị nhiễm bẩn phóng xạ, bị hỏng hoặc bị mất, nhân viên phải báo cáo ngay cho Người phụ trách an toàn bức xạ. Liều kế sự cố phải được gửi ngay đến đơn vị dịch vụ để đọc liều khẩn cấp. Trong thời gian chờ kết quả, chủ cơ sở phải trang bị liều kế mới hoặc áp dụng các biện pháp đánh giá liều thay thế dựa trên phông môi trường và thời gian thao tác, bảo đảm liều nhận được của nhân viên không vượt quá mức trung bình.

Quản lý nhân viên bức xạ và vai trò của Người phụ trách an toàn

Cơ sở bức xạ phải thiết lập bộ máy an toàn chuyên trách theo quy định tại Luật Năng lượng nguyên tử. Chủ cơ sở phải bổ nhiệm bằng văn bản một Người phụ trách an toàn bức xạ (Radiation Safety Officer – RSO) có Chứng chỉ nhân viên bức xạ do cơ quan có thẩm quyền cấp. Người phụ trách an toàn có trách nhiệm giúp người đứng đầu cơ sở xây dựng nội quy an toàn, giám sát việc tuân thủ quy trình làm việc, quản lý liều kế cá nhân, tổ chức kiểm xạ, và lập kế hoạch ứng phó sự cố bức xạ cấp cơ sở.

Đối với nhân viên bức xạ, cơ sở phải tuân thủ các quy định nhân sự bắt buộc:

  • Tuyệt đối không tuyển dụng hoặc phân công người dưới 18 tuổi làm công việc bức xạ chính thức.
  • Đào tạo an toàn bức xạ đầu vào cho nhân viên mới và tổ chức đào tạo lại định kỳ 3 năm/lần theo khung chương trình quy định.
  • Khám sức khỏe tuyển dụng, khám sức khỏe định kỳ hằng năm và khám sức khỏe khi chấm dứt công việc bức xạ tại các cơ sở y tế đủ năng lực. Tuyệt đối không bố trí những người mắc các bệnh cấm kỵ phóng xạ làm công việc bức xạ.
  • Khi nhân viên bức xạ nữ mang thai, nhân viên có trách nhiệm thông báo cho Người phụ trách an toàn. Người đứng đầu cơ sở phải chủ động xem xét, điều chỉnh điều kiện làm việc hoặc chuyển sang công việc khác phù hợp nếu nhân viên bức xạ nữ có nguyện vọng.

Chế độ lưu giữ hồ sơ an toàn và nghĩa vụ báo cáo

Cơ sở tiến hành công việc bức xạ phải lập, thường xuyên cập nhật và lưu giữ hệ thống hồ sơ an toàn bức xạ tại cơ sở theo quy định của Luật Năng lượng nguyên tử và Thông tư số 59/2025/TT-BKHCN. Danh mục hồ sơ lưu trữ bao gồm:

  • Giấy phép tiến hành công việc bức xạ còn hiệu lực (thời hạn 3 năm đối với các công việc bức xạ thông thường, 5 năm đối với vận hành thiết bị chiếu xạ).
  • Nhật ký vận hành thiết bị, nhật ký bàn giao nguồn phóng xạ, hồ sơ kiểm định thiết bị, bảo dưỡng kỹ thuật và kết quả đo kiểm xạ định kỳ.
  • Báo cáo đánh giá an toàn, kế hoạch ứng phó sự cố bức xạ cấp cơ sở đã được phê duyệt.
  • Hồ sơ sức khỏe cá nhân và hồ sơ theo dõi liều chiếu xạ cá nhân của tất cả nhân viên bức xạ.

Pháp luật quy định đặc biệt về thời hạn lưu trữ: Hồ sơ liều bức xạ cá nhân và hồ sơ sức khỏe của nhân viên bức xạ bắt buộc phải được cơ sở lưu giữ trong thời hạn 30 năm kể từ khi nhân viên đó không còn làm công việc bức xạ tại cơ sở. Định kỳ hằng năm vào tháng 11 (hoặc khi có yêu cầu đột xuất), cơ sở phải lập Báo cáo thực trạng an toàn bức xạ gửi về Cục An toàn bức xạ và hạt nhân hoặc Sở Khoa học và Công nghệ cấp tỉnh để phục vụ công tác quản lý nhà nước và thanh tra.

Kết luận

Kiểm xạ là một thành tố kỹ thuật bắt buộc, giữ vai trò rào chắn bảo vệ con người và môi trường khỏi tác hại của bức xạ ion hóa. Việc thực thi đúng và đầy đủ công tác kiểm xạ không chỉ giúp cơ sở hoàn thiện đầy đủ trách nhiệm pháp lý, phòng tránh các hình phạt hành chính nặng mà còn tối ưu hóa chi phí vận hành, ngăn ngừa các sự cố phóng xạ nguy hiểm.

  • Các cơ sở tiến hành công việc bức xạ cần chủ động triển khai các giải pháp quản lý đồng bộ:
  • Xây dựng lịch trình kiểm xạ môi trường làm việc định kỳ tối thiểu 1 lần/năm và gửi đọc liều kế cá nhân 3 tháng/lần đúng quy định.
  • Đầu tư chuẩn hóa hệ thống che chắn vật lý, khóa chéo liên động và các thiết bị bảo vệ cá nhân ngay từ khâu thiết kế phòng máy.
  • Tăng cường đào tạo, nâng cao ý thức kỷ luật của nhân viên bức xạ và duy trì chế độ lưu trữ hồ sơ an toàn minh bạch, lâu dài theo đúng quy định pháp luật.

Từ khóa: bức xạ;

– CMD –

Cùng chủ đề

Viết một bình luận

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Công ty TNHH thiết bị và dịch vụ khoa học AE

Trụ sở chính tại Hà Nội: Phòng 1411 tòa nhà OCT2, KĐT Xuân Phương Viglacera, phường Xuân Phương, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.

Chi nhánh miền Nam: 154/174C Âu Dương Lân, Phường 3, Quận 8, Tp. Hồ Chí Minh

Chi nhánh miền Trung: Xã Lộc Ninh, Tp. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.

Chi nhánh Bắc Giang: Số 18, Thôn Lực, xã Tân Mỹ, Tp. Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

ĐT: 0983374983, Fax: 024366667461

Email: duongcm@ae-rad.vn

Di động: 0983 374 983 (Chu Minh Dương)

LIÊN HỆ TƯ VẤN





    Total Visitors: 179354

    Today's Visitors:5

    0983 374 983